Cùng với sự phát triển của Chính phủ điện tử (CPĐT),
việc xây dựng Kiến trúc CPĐT là hết sức cần thiết, tạo điều kiện cho
việc kết nối, liên thông, chia sẻ hạ tầng, thông tin trong CPĐT, tránh
sự đầu tư trùng lặp gây lãng phí. Hầu hết các nước có CPĐT phát triển
đều hướng tới xây dựng và áp dụng Khung Kiến trúc CPĐT. Khung Kiến trúc
CPĐT Việt Nam phiên bản 1.0 do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành
ngày 21/4/2015 sẽ được giới thiệu dưới đây.
Ngày nay, ứng dụng
công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động của cơ quan nhà nước (CQNN)
hướng tới phát triển CPĐT là xu thế tất yếu, là mô hình phổ biến của
nhiều quốc gia. Xây dựng CPĐT trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của
bất cứ chính phủ nào. Có nhiều định nghĩa về CPĐT, hầu hết các định
nghĩa đều có một số nội dung chính như sau: Chính phủ điện tử là chính
phủ ứng dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của CQNN,
tăng cường công khai, minh bạch thông tin, cung cấp dịch vụ công tốt hơn
cho người dân và doanh nghiệp. Trong quá trình triển khai CPĐT, đặc
biệt tại các nước phát triển, lợi ích mà CPĐT mang lại được thể hiện rất
rõ, thậm chí có thể định lượng được.
Chính phủ điện tử thường cung cấp các
nhóm dịch vụ: Chính phủ cung cấp thông tin và dịch vụ cho người dân
(G2C); Chính phủ cung cấp thông tin và dịch vụ cho doanh nghiệp (G2B);
Cung cấp thông tin và các dịch vụ liên quan giữa các cơ quan chính phủ
với nhau (G2G); Chính phủ cung cấp các thông tin và dịch vụ cho các cán
bộ, công chức (G2E).
Giới thiệu chung về Khung Kiến trúc CPĐT
Theo Liên Hợp quốc, để chuyển sang
chính phủ kết nối, đòi hỏi có một khung (framework) chặt chẽ, đồng bộ cả
về các cơ chế và các giải pháp thực hiện. Các cơ quan chính phủ thường
là các tổ chức lớn, có đặc trưng cấu trúc phân cấp, phân tách phức tạp
thành các đơn vị thành viên nhỏ hơn và các đơn vị này hoạt động tương
đối độc lập. Điều này dẫn đến sự phân chia thành các quy trình nghiệp
vụ, các hệ thống thông tin khác nhau tạo ra nhiều vấn đề phức tạp trong
việc kết nối, liên thông giữa các đơn vị.
Để giải quyết vấn đề kết nối, liên
thông trong CPĐT, có hai giải pháp chính là ban hành, áp dụng các Chuẩn
và việc ban hành, tuân thủ Khung Kiến trúc CPĐT. Rất nhiều quốc gia trên
thế giới đã nghiên cứu và đưa ra các Khung tương hợp cho CPĐT
(e-Government Interoperability Framework), với cốt lõi là các bộ chuẩn
nhằm đảm bảo cho tính tương hợp, kết nối liên thông. Khung Kiến trúc
CPĐT còn hướng tới việc xác định rõ các thành phần, bộ phận của tổ chức,
cơ quan và mối quan hệ giữa các thành phần này trong CPĐT.
Trong thời gian qua, đã có nhiều
phương pháp luận về Khung Kiến trúc CPĐT được xây dựng, chủ yếu dựa trên
các khung kiến trúc và phương pháp luận chính như: Khung Zachman
(Zachman Framework); Khung kiến trúc nhóm mở (Open Group Architectural
Framework - TOGAF); Phương pháp luận của Gartner; Khung kiến trúc tổng
thể liên bang của Mỹ (Federal Enterprise Architecture Framework - FEAF);
Các chuẩn và kiến trúc cho các ứng dụng CPĐT của Đức (Standards and
Architectures for eGovernment Applications - SAGA); Phương pháp luận của
Đan Mạch (Offentlig Information Online - OIO). Các chuyên gia cho rằng,
không có phương pháp luận nào là hoàn toàn phù hợp để xây dựng Khung
Kiến trúc CPĐT mà đòi hỏi phải có sự chọn lọc, kết hợp nhiều phương pháp
để đáp ứng nhu cầu của cơ quan, tổ chức.
Việc xây dựng và tuân thủ Khung Kiến trúc CPĐT sẽ giúp các CQNN:
- Tăng khả năng kết nối, liên thông
các hệ thống thông tin trên quy mô rộng, góp phần phục vụ người dân,
doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, theo cơ chế một cửa;
- Tăng khả năng cung cấp các dịch vụ
công trực tuyến mức độ cao cho người dân và doanh nghiệp dựa trên nền
tảng dữ liệu, thông tin tin cậy được chia sẻ trên diện rộng giữa các
CQNN;
- Giảm đầu tư trùng lặp, vì xác định
được rõ các thành phần, hệ thống thông tin trong CPĐT và trách nhiệm, lộ
trình triển khai của các cơ quan.
Xây dựng Khung Kiến trúc CPĐT tại Việt Nam
Với các quốc gia nói chung và Việt Nam
nói riêng, không thể áp dụng hoàn toàn một Khung Kiến trúc CPĐT sẵn có
của nước ngoài, mà phải xây dựng Khung Kiến trúc CPĐT phù hợp.
Khung Kiến trúc CPĐT tại Việt Nam có một số đặc điểm sau:
- Hệ thống quản lý hành chính nhà nước chia làm nhiều cấp, với nhiều mối quan hệ dọc, ngang trong mỗi cấp và giữa các cấp;
- Hệ thống chính trị của Việt Nam bao
gồm nhiều thành phần như các cơ quan Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam....
- Quy mô, đặc điểm, chức năng, nhiệm
vụ của các Bộ, ngành rất khác nhau. Nhiều Bộ có chức năng, nhiệm vụ, cơ
cấu tổ chức gọn, các đơn vị trực thuộc trong phạm vi địa lý hẹp. Trong
khi nhiều Bộ có quy mô, chức năng, nhiệm vụ phức tạp, các đơn vị trực
thuộc có trụ sở làm việc trên khắp cả nước;
- Có sự khác biệt về quy mô, đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của các tỉnh, thành phố trên các vùng miền;
- Hiện trạng, ứng dụng CNTT trong hoạt
động của các CQNN chủ yếu có quy mô nhỏ, mang tính nội bộ, thiếu kết
nối, chia sẻ hạ tầng và dữ liệu. Việc đầu tư nhiều nơi còn trùng lặp,
chưa phân định rõ trách nhiệm trong xây dựng, triển khai hệ thống CNTT
các cấp. Đây là những hạn chế mà Khung Kiến trúc CPĐT cần xem xét để
khắc phục.
Khung Kiến trúc CPĐT Việt Nam được xây
dựng dựa trên sự kết hợp các phương pháp luận xây dựng Khung Kiến trúc
CPĐT của quốc tế, bảo đảm phù hợp với các đặc thù của Việt Nam. Khung
Kiến trúc CPĐT Việt Nam phải đảm bảo mang tính tổng quát, tính cụ thể,
tính kết nối, tính mở và tính khả thi.
Mối quan hệ, sự phân cấp quản lý hành
chính của CQNN sẽ có ảnh hưởng lớn đến Khung kiến trúc CPĐT, vì CPĐT
liên quan đến tin học hóa hoạt động của các CQNN trong cơ cấu tổ chức
hành chính nhà nước. Hiện nay, tại Việt Nam có thể chia thành 04 cấp
quản lý hành chính nhà nước, bao gồm: Cấp Trung ương, đứng đầu là Chính
phủ và các Bộ; cấp Tỉnh, đứng đầu là UBND Tỉnh và các cơ quan chuyên
môn; Cấp Quận/Huyện, đứng đầu là UBND Huyện và các cơ quan chuyên môn và
cấp Phường/Xã.
Sơ đồ tổng thể Khung Kiến trúc CPĐT Việt Nam
Các thành phần chính của Sơ đồ tổng thể khung kiến trúc CPĐT (Hình vẽ ) gồm các thành phần:
- Người sử dụng: Là những người truy cập, sử dụng dịch vụ CPĐT các cấp, bao gồm người dân, doanh nghiệp, cán bộ, công chức, viên chức.
- Kênh giao tiếp: Là môi
trường giúp người sử dụng truy cập đến các hệ thống thông tin CPĐT của
các CQNN để thực hiện giao dịch. Một số kênh tiêu biểu như điện thoại,
cổng/trang thông tin điện tử, hay giao tiếp trực tiếp.
- Cổng thông tin điện tử Chính phủ:
Là đầu mối kết nối người sử dụng tới các ứng dụng, hệ thống thông tin
(HTTT) của các Bộ/Tỉnh. Cổng này một mặt kết nối với Kênh giao tiếp, mặt
khác, lại kết nối với các cổng thông tin điện tử các Bộ/Tỉnh; kết nối
với Hệ thống kết nối, liên thông của quốc gia và các HTTT/CSDL quốc gia.
Trong trường hợp Cổng thông tin điện tử của Chính phủ chưa kết nối các
cổng thông tin điện tử của các Bộ/Tỉnh thì người sử dụng sẽ kết nối trực
tiếp với cổng thông tin điện tử của các Bộ/Tỉnh.


Hình: Sơ đồ tổng thể Khung kiến trúc CPĐT Việt Nam
- Hệ thống kết nối, liên thông các HTTT ở Trung ương và địa phương:
Hệ thống này bao gồm các dịch vụ, ứng dụng có thể chia sẻ, dùng chung
cấp quốc gia để kết nối, liên thông các HTTT ở quy mô quốc gia. Hệ thống
này giúp cho việc đầu tư không trùng lặp, tiết kiệm; đồng thời tạo điều
kiện kết nối liên thông, tích hợp các HTTT.
- Kiến trúc CPĐT của Bộ/Tỉnh, gồm các bộ phận chính:
+ Cổng thông tin điện tử: Để kết nối
với Cổng thông tin điện tử Chính phủ và tới người sử dụng, mặt khác kết
nối tới các ứng dụng CNTT của Bộ/Tỉnh.
+ Các ứng dụng CNTT: Là chương trình máy tính để cung cấp các dịch vụ CPĐT tương ứng.
+ Nền tảng chia sẻ, tích hợp: là nơi
lưu trữ các ứng dụng, dịch vụ chia sẻ, dùng chung cho cả Bộ/Tỉnh và cũng
bao gồm các dịch vụ để tích hợp, kết nối các ứng dụng, hệ thống CNTT
trong phạm vi Bộ/Tỉnh. Đồng thời, nó cũng được kết nối tới các hệ thống
bên ngoài (như nền tảng chia sẻ, tích hợp của các Bộ/Tỉnh khác; các
HTTT/CSDL quốc gia;…).
+ Cơ sở hạ tầng thông tin của Bộ/Tỉnh
là hạ tầng kỹ thuật phục vụ các ứng dụng/HTTT của Bộ/Tỉnh, bao gồm mạng,
thiết bị CNTT, ATTT....
- Các HTTT/CSDL Quốc gia: Là
các hệ thống thông tin hoặc CSDL quy mô quốc gia, được dùng chung cho
nhiều Bộ/Tỉnh. Ví dụ: HTTT quản lý văn bản tích hợp trong toàn quốc cho
các cơ quan Chính phủ, hệ thống thư điện tử quốc gia, HTTT quản lý Ngân
sách và Kho bạc, hệ thống Thuế điện tử, Hải quan điện tử, hệ thống mạng
đấu thầu quốc gia; CSDL quốc gia về dân cư, CSDL quốc gia về tài chính,
CSDL quốc gia về đất đai,...
Danh mục các HTTT, CSDL có quy mô quốc
gia được cập nhật trong các Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT
trong hoạt động của CQNN do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
- Các HTTT ngoài cơ quan nhà nước: Là các HTTT hoặc CSDL của các cơ quan, tổ chức như các cơ quan Đảng, các doanh nghiệp, các tổ chức trong nước và quốc tế khác.
- Hạ tầng kỹ thuật: là hạ
tầng kỹ thuật CNTT kết nối các HTTT trên quy mô quốc gia. Những thành
phần chính của hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia được cập nhật trong các
Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN do Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt.
- Quản lý, chỉ đạo: Bao gồm
công tác chỉ đạo, quản lý, tổ chức, hướng dẫn, đào tạo, môi trường pháp
lý, truyền thông, nhằm bảo đảm các điều kiện triển khai các HTTT.
- An toàn thông tin: Là thành
phần xuyên suốt, là điều kiện bảo đảm triển khai các thành phần của
CPĐT. Đảm bảo ATTT bao gồm các nội dung chính như: bảo vệ an toàn thiết
bị, an toàn mạng, an toàn hệ thống, an toàn ứng dụng CNTT, an toàn dữ
liệu, quản lý và giám sát. Các nội dung này cần được triển khai đồng bộ
tại các cấp, đáp ứng nhu cầu thực tế và xu thế phát triển công nghệ.
Sơ đồ tổng thể Khung Kiến trúc CPĐT
Việt Nam cũng thể hiện bao quát sự kết nối của các HTTT các cấp, phù hợp
với sự kết nối về quy trình nghiệp vụ thực tế như đã phân tích, cụ thể
như sau:
Kết nối dọc bao gồm các liên kết:
- Kết nối từ Chính phủ xuống các Bộ, UBND các Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương thông qua Cổng thông tin điện tử Chính phủ;
- Kết nối từ các cơ quan chuyên ngành
của Bộ xuống các cơ quan chuyên ngành (sở chuyên ngành) của Tỉnh thông
qua hình thức trực tiếp, kết nối giữa nền tảng chia sẻ, tích hợp của Bộ
với Tỉnh và qua Hệ thống kết nối, liên thông các HTTT ở Trung ương và
địa phương;
- Kết nối từ cơ quan chuyên ngành của
các Bộ xuống các cơ sở đặt tại các địa phương (như kết nối từ Tổng cục
xuống các Cục, Chi cục tại địa phương) thông qua hình thức trực tiếp,
qua nền tảng chia sẻ, tích hợp của Bộ và qua Hệ thống kết nối, liên
thông các HTTT ở Trung ương và địa phương;
- Kết nối từ các cơ quan chuyên ngành
của tỉnh (sở chuyên ngành) với các đơn vị chuyên môn cấp dưới (huyện,
xã) thông qua hình thức trực tiếp hoặc qua nền tảng chia sẻ, tích hợp
của tỉnh.
Kết nối ngang, bao gồm các mối liên kết:
- Kết nối giữa các Bộ thông qua các
hình thức như trực tiếp; kết nối giữa nền tảng chia sẻ, tích hợp của Bộ
hoặc qua Hệ thống kết nối, liên thông các HTTT ở Trung ương và địa
phương;
- Kết nối giữa các đơn vị trực thuộc
Bộ, thông qua hình thức trực tiếp; kết nối qua nền tảng chia sẻ, tích
hợp của Bộ hoặc qua Hệ thống kết nối, liên thông các HTTT ở Trung ương
và địa phương;
- Kết nối giữa các Tỉnh thông qua hình
thức kết nối giữa nền tảng chia sẻ, tích hợp của các tỉnh hoặc qua Hệ
thống kết nối, liên thông các HTTT ở Trung ương và địa phương;
- Kết nối giữa các cơ quan chuyên
ngành cấp Tỉnh (các sở, ban, ngành) thông qua các hình thức như: Trực
tiếp; kết nối giữa nền tảng chia sẻ, tích hợp của tỉnh;
- Kết nối giữa các cơ quan chuyên môn
cấp huyện (các phòng, ban) thông qua hình thức trực tiếp hoặc kết nối
qua nền tảng chia sẻ, tích hợp của tỉnh.
Kết nối với các HTTT ngoài cơ quan nhà nước
Việc kết nối giữa các HTTT của các cơ
quan nhà nước với các đơn vị khác tùy theo yêu cầu cụ thể mà sẽ có những
hình thức phù hợp theo quy mô, cấp kết nối. Các kết nối này gồm hình
thức trực tiếp; kết nối qua nền tảng chia sẻ, tích hợp của Bộ/Tỉnh hoặc
kết nối qua Hệ thống kết nối, liên thông các HTTT ở Trung ương và địa
phương.
Việc chọn lựa theo các hình thức kết
nối cụ thể nào tùy thuộc vào điều kiện và nhu cầu thực tế. Định hướng
chung, việc kết nối nội bộ giữa các đơn vị trong Bộ/Tỉnh thông qua nền
tảng chia sẻ, tích hợp của Bộ/Tỉnh; việc kết nối quy mô quốc gia thông
qua Hệ thống kết nối, liên thông các HTTT ở Trung ương và địa phương.
Thực tế hiện nay, các thành phần trong
Khung Kiến trúc CPĐT Việt Nam còn chưa đầy đủ và sẽ được bổ sung, hoàn
thiện trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, trong từng giai đoạn, các
Bộ/Tỉnh trên cơ sở điều kiện hiện có, vẫn phải đảm bảo triển khai CPĐT
phục vụ nhu cầu thực tế.
Cụ thể, khi Cổng thông tin điện tử
Chính phủ chưa kết nối với Cổng thông tin điện tử các Bộ/Tỉnh, thì người
dân, doanh nghiệp có thể truy cập trực tiếp tới Cổng thông tin điện tử
của các Bộ/Tỉnh. Khi chưa có hệ thống kết nối, liên thông ở Trung ương
và địa phương thì các HTTT các Bộ/Tỉnh có thể kết nối trực tiếp với
nhau. Trong mỗi Bộ/Tỉnh, nếu chưa có nền tảng chia sẻ, tích hợp chung
thì các ứng dụng/HTTT sẽ trực tiếp kết nối với nhau theo nhu cầu.
Như vậy, Khung Kiến trúc CPĐT phiên
bản 1.0 đã xác định được Sơ đồ tổng thể Khung Kiến trúc CPĐT của quốc
gia. Đây là căn cứ để CQNN các cấp xác định trách nhiệm, vị trí của mình
trong sự phát triển CPĐT của Quốc gia; làm căn cứ để các Bộ/Tỉnh xây
dựng Kiến trúc CPĐT chi tiết của mình, đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ.
Trên cơ sở Khung Kiến trúc CPĐT Việt Nam và Kiến trúc CPĐT chi tiết của
các Bộ/Tỉnh, các CQNN có thể xây dựng, triển khai kế hoạch ứng dụng CNTT
theo lộ trình, bảo đảm sự kết nối, liên thông, chia sẻ, sử dụng chung
thông tin, cơ sở hạ tầng thông tin.
Kinh nghiệm các nước cũng cho thấy,
xây dựng Kiến trúc CPĐT là công việc phức tạp, lâu dài, Khung Kiến trúc
CPĐT thường được ban hành thành nhiều phiên bản trong các giai đoạn khác
nhau, phù hợp nhu cầu, sự phát triển. Sau khi xác định Khung Kiến trúc
CPĐT quốc gia, cơ quan có trách nhiệm cần phát hành các tài liệu hướng
dẫn triển khai cụ thể.
TS. Nguyễn Thành Phúc, Cục trưởng Cục Tin học hóa, Bộ Thông tin và Truyền thông
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét